Thursday, March 27, 2014

Cơ hội lớp tiếng Anh Phỏng Vấn xin việc làm?

Tiếng Anh phỏng vấn việc làm

- Đối tượng:1-      Những ai có nhu cầu đi làm mà bắt buộc phải Phỏng vấn tiếng Anh – khi tuyển dụng.

  Cơ hội lớp tiếng Anh Phỏng Vấn xin việc làm? 


- Đối tượng:
1-      Những ai có nhu cầu đi làm mà bắt buộc phải Phỏng vấn tiếng Anh – khi tuyển dụng.
2-      Sinh viên đã học xong và chuẩn bị Tốt nghiệp các trường CĐ, ĐH trên cả nước có nhu cầu đi phỏng vấn việc làm bằng tiếng Anh.
3-      Những ai có nhu cầu chuyển công tác, tìm cơ hội việc làm tốt hơn, tăng thu nhập ở các Tổ chức, Liên doanh, … có yêu cầu phỏng vấn tiêng Anh.      
4-      Những ai có nhu cầu đi phỏng vấn xin Visa đi nước ngoài (đi học hoặc đi làm).
5-      Những ai muốn nâng ngạch, chuyên viên, tăng cường kỹ năng phản xạ nghe nói. 
- Lớp học       : Từ 5 – 10 người. (Kiểm tra đầu vào để xếp lớp)
- Giáo viên     : Giảng viên Anh văn, Thạc sĩ, các CEO, Admin, HR manager của các Liên doanh và các Tổ chức lớn (kinh nghiệm kỹ năng Nghe nói Anh văn, phỏng vấn việc làm và chuyên gia về Admin, Tuyển dụng) đã tổ chức thành công nhiều lớp tương tự và học viên đã rất thành công sau khi học khóa học tương tự.  
- Khai giảng   : Các ngày trong tuần từ thứ 2- CN. (Khai giảng theo nhu cầu của Học viên) 
- Thời lượng  : 2h/1 buổi.
- Số buổi        : 10 buổi.
- Hình thức học: Lý thuyết – Bài giảng – Hình ảnh và Thực hành (các kỹ năng, tình huống xử lý và phản xạ khi phỏng vấn), các mẹo (tips) và cách ứng phó (tricks) với Nhà tuyển dụng…  -
 Kết quả        : Đảm bảo thành công cao trong phỏng vấn xin việc hoặc các mục tiêu khác.
- Kinh phí       : Mỗi học viên sẽ chi trả thù lao 120.000VND/buổi học (lớp không quá 10 hv).
- Liên hệ         : Thầy Hải, Thầy Thọ, Thầy Hùng, Thầy Thắng (GV cao cấp về tiếng Anh, chuyên gia dịch thuật, quản lý nhân sự cao cấp, CEOs… kinh nghiệm và thực tế “Không nặng về SÁCH VỞ”) 
1. Liên hệ:      -   Đăng ký trực tuyến: (Bấm chuột vào đây)
-   Gọi số điện thoại: 04 66573941;  04- 3 5533 958 ,
-   Gọi đường dây nóng: 0902 063 175.
2. Tư vấn trình độ miễn phí: Gọi số: 0904 128134
 
3. Tham khảo tài nguyên học tập: (Xem tại đây)

Friday, March 21, 2014

Đào Tạo biên phiên dịch Kinh nghiệm học Kỹ năng Nói.

Kinh nghiệm học Kỹ năng Nói.

Khi thực tập nói tiếng Anh, chúng ta cần phải kết hợp và ý thức được hai loại bài tập: các bài tập rèn luyện khả năng diễn đạt lưu loát (phân vai, đối thoại, trao đổi nhóm...)

Tiếng Anh là một công cụ không thể thiếu trên con đường hội nhập và phát triển. Tuy nhiên, có một thực tế đáng buồn đang xảy ra ở nước ta đó là, nhiều người đã bỏ ra khá nhiều thời gian học tiếng Anh mà vẫn không thể giao tiếp, trao đổi bằng tiếng Anh được. Chúng ta có thể nêu lên vô vàn nguyên nhân nhưng ít ai để ý đến một điểm rất quan trọng, gần như là then chốt của vấn đề: Quan điểm dạy và học tiếng Anh đúng đắn, phù hợp. Mời bạn tìm hiểu các quan điểm sau đây:

1. Xác định mục đích
Trước tiên chúng ta hãy xác định mục đích của việc học tiếng Anh. Dù với bất kỳ mục đích trước mắt nào đi nữa chúng ta cũng nên nhớ đến mục đích dài lâu, đó chính là yêu cầu thực tế trong đời sống, việc làm. Trong việc học tiếng Anh, cũng như trong bất cứ việc gì, việc xác định mục đích rất quan trọng và phải được thực hiện trước tiên.
2. Giao tiếp và văn phạm
Trong giao tiếp chúng ta có thể xem khả năng truyền thông là mục đích chính và văn phạm chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho mục đích này. Quá chú ý đến văn phạm sẽ cản trở phản xạ ngôn ngữ, khiến chúng ta ngại nói tiếng Anh, sợ sai khi nói. Chúng ta hãy chú tâm vào việc giao tiếp; các cấu trúc văn phạm sẽ được dễ dàng ghi nhớ khi học qua một loạt các ngữ cảnh, hơn là chỉ chú tâm học theo các quy tắc. Dần dần, chúng ta sẽ thấy các lỗi văn phạm càng lúc càng ít đi.

3. Sự lưu loát và độ chính xác
Khi thực tập nói tiếng Anh, chúng ta cần phải kết hợp và ý thức được hai loại bài tập: các bài tập rèn luyện khả năng diễn đạt lưu loát (phân vai, đối thoại, trao đổi nhóm...) và các bài tập rèn luyện sự chính xác. Các bài tập rèn luyện sự lưu loát khuyến khích học viên diễn đạt tự nhiên và không phải để ý đến những tiểu tiết không cần thiết. Các bài tập rèn luyện sự chính xác sẽ đồng thời làm cho học viên quan sát được cách diễn đạt và văn phong của tiếng Anh.
4. Suy nghĩ bằng tiếng Anh
Một trong những sai lầm nghiêm trọng thường gặp là chúng ta có khuynh hướng "dịch" (từ tiếng mẹ đẻ sang tiếng Anh) trước khi nói. Việc này ngay lập tức tạo ra một rào cản ngôn ngữ. Ví dụ, khi chúng ta muốn bỏ một cuộc hẹn, chúng ta sẽ nghĩ trong đầu câu: ''Tôi muốn hủy cuộc hẹn đó". Sau đó chúng ta dịch câu đó sang tiếng Anh. Chúng ta sẽ gặp vấn đề vì chúng ta có thể không nhớ, hoặc không biết các từ "cancel'' và “appointment” để hình thành câu ''I would like to cancel the appointment". Nếu chúng ta nghĩ bằng tiếng Anh, chứ không phải là dịch trước khi nói, chúng ta sẽ không gặp phải vấn đề này, vì có nhiều cách diễn đạt tình huống này bằng tiếng Anh, ví dụ: "I'm sorry. I'm not free tomorrow" hay "I’m afraid I can't come tomorrow", v.v...

5. Nghe và
ta cần phải nghe một khoảng thời gian (nhanh hay chậm tùy theo mỗi người). Và vì thế, việc luyện nghe rất quan trọng: Hãy nghe bất cứ khi nào, bất cứ ở đâu. Chúng ta có thể nhớ hàng trăm câu trong đầu, nhưng nếu chúng ta không nghe được thì tất cả đều vô nghĩa, giống như một khách du lịch cầm quyển sách học tiếng, hỏi đường và không thể đến nơi được vì không thể hiểu người chỉ đường nói gì. Khi khả năng hiểu tiếng Anh của chúng ta tiến bộ thì cách tự nhiên, chúng ta cũng sẽ thấy tự tin và tiến bộ trong khả năng nói.

6. Chủ động: Trách nhiệm thuộc về chính chúng ta
Học giao tiếp tiếng Anh không phải là việc tiếp thu một kiến thức, mà là việc thực hành và thể hiện (performance). Chúng ta phải thực sự nhận lấy "trách nhiệm học'' này, không thể ngả lưng ra ghế, nghe giảng viên nói và hy vọng sẽ giao tiếp tốt được. Chúng ta phải chủ động, thành quả của chúng ta sẽ là những gì chúng ta đã bỏ ra. Kỹ năng tốt là sản phẩm của thực hành và sự nỗ lực.

7. Giảng viên
Để giao tiếp tốt, chúng ta sẽ phải chịu trách nhiệm cho các kiến thức sơ đẳng. Giảng viên, vì vậy, không phải mất thời giờ cho các công việc nhàm chán như viết lên bảng các từ vựng hay dạng chia của một động từ bất quy tắc, mà thay vào đó là tập trung sáng tạo làm cho lớp học sinh động, tạo điều kiện và cơ hội cho chúng ta thực hành giao tiếp nhiều nhất. 

Website: www.vedico.com.vn; www.daotaodichthuat.edu.vn ; www.thegioidichthuat.com
e-mail: dichthuat@vedico.com.vn; daotao@vedico.com.vn ; dichthuatvedico@gmail.com

Trung Tâm Biên Phiên Dịch Những lời khuyên hữu ích để nói và viết tiếng Anh

 Những lời khuyên hữu ích để nói và viết tiếng Anh

“Học tiếng Anh cũng giống như tập đi xe đạp, ít ai có thể đi xe đap thành thạo khi chưa ngã vài lần”. Sau những lần vấp váp đó, Matt Purland đã rút

ra một vài lời khuyên có thể sẽ hữu ích cho bạn trong việc học tiếng, nhất là hai kỹ năng nói và viết
1- Luôn luôn kiểm tra bài của mình. Hãy kiểm tra lại ngay cả khi bạn nghĩ bài làm của mình đã hoàn thiện. Sử dụng từ điển để kiểm tra lại những từ mà bạn chưa chắc chắn.

2- Đến lớp và làm bài tập thường xuyên. Bạn có thể đề nghị giáo viên ra thêm bài tập vào cuối tuần hoặc tự trang bị cho mình những quyển sách có các các dạng bài tập phù hợp với chương trình học. Trên lớp hãy hỏi ngay thầy cô nếu bạn có vấn đề gì còn vướng mắc. Ngoài giờ học, bạn có thể thảo luận bằng tiếng Anh với bạn bè về các chủ điểm đơn giản, hoặc các phương pháp để học tốt hơn.

3- Trong khi viết tiếng Anh: Hãy thực hiện đúng theo yêu cầu của đề bài. Việc này sẽ không mấy khó khăn nếu bạn đọc kỹ câu hỏi. Có thể đề bài sẽ yêu cầu bạn điền từ; khoanh tròn phương án trả lời đúng trong các phương án a, b, c, d cho trước hay viết về gia đình bạn. Điều quan trọng là bạn hiểu đề bài muốn bạn làm gì và làm như thế nào.

4- Dành thời gian hợp lý cho việc học từ vựng. Bạn cần biết ý nghĩa cũng như cách viết của các từ chỉ ngày tháng, thức ăn, quần áo... Bạn có thể học từ vựng theo chủ điểm. Nếu chuẩn bị kỹ ở nhà thì khi đến lớp bạn sẽ thấy mọi việc trở nên dễ dàng hơn.
5- Phác thảo ý chính trước khi đặt bút viết một bài luận. Hãy suy nghĩ về những gì bạn muốn diễn đạt trong bài viết và vạch ra những ý chính. Bạn có thể bắt đầu với một đoạn giới thiệu ngắn, rồi sau đó viết đoạn cho từng ý. Đoạn cuối phải tóm lại được ý chính của bài văn. Độ dài mỗi đoạn văn khoảng 4-5 câu là vừa phải.  

6- Dành thời gian học các động từ cơ bản - động từ có quy tắc và bất quy tắc. Đặc biệt là 4 động từ bất quy tắc quan trọng “to be”, “to go”, “to have”, “to do”. Học các thì khác nhau của động từ: thì hiện tại/quá khứ đơn, thì hiện tại/quá khứ tiếp diễn, và thì hiện tại/quá khứ hoàn thành... Học kỹ quá khứ phân từ của những động từ bất quy tắc quan trọng như have/had, do/done. Như vậy bạn có thể thoải mái diễn tả những hoạt động hay câu chuyện nào đó về bản thân mà không lo bị bí từ.

7- Đọc sách báo, tạp chí viết bằng tiếng Anh. Đừng bỏ qua những ký hiệu và biển báo hay những mấu quảng cáo nho nhỏ bằng tiếng Anh. Viết lại những từ và cụm từ mà bạn chưa hiểu để tra từ điển. Nên có một cuốn sổ tay để ghi chép lại và đọc lại thường xuyên. Vốn từ của bạn sẽ được tích luỹ dần dần giống như tiền tiết kiệm trong ngân hàng vậy.

8- Xem những kênh truyền hình bằng tiếng Anh. Kết hợp nghe và đọc phụ đề và chú ý các cấu trúc hay. Nếu có thể, hãy thu lại chương trình và khi xem lại có thể tạm ngừng những đoạn quá nhanh với bạn. Sử dụng Internet để tìm thông tin bạn quan tâm bằng tiếng Anh. Không những thể bạn có thể vào những website để chơi các trò chơi bằng tiếng Anh như trắc nghiệm giới từ, ô chữ...

9- Thường xuyên thực hành. Nếu bạn muốn nhớ những gì đã học, hãy sử dụng chúng hàng ngày. Luyện tập nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng Anh. Nếu có thể hãy gia nhập một câu lạc bộ, hoặc làm tình nguyện viên để có thể giao tiếp với người bản xứ.10- Đừng từ bỏ! Nhiều khi bạn sẽ cảm thấy mình học nhưng không vào. Hãy kiên nhẫn bởi ai cũng thấy việc học không hề dễ dàng nhưng chỉ những người kiên trì theo đuổi tới cùng mới có cơ hội tận hưởng những thành quả ngọt ngào của việc học mà thôi.            (Theo Internet.) 

Website: www.vedico.com.vn; www.daotaodichthuat.edu.vn ; www.thegioidichthuat.com
e-mail: dichthuat@vedico.com.vn; daotao@vedico.com.vn ; dichthuatvedico@gmail.com

Kinh nghiệm học tiếng Anh của chuyên gia nước ngoài

Kinh nghiệm học tiếng Anh của chuyên gia nước ngoài

Khi tôi bắt đầu học tiếng Tây Ban Nha mở băng ra chỉ nghe được vài từ nhưng sau vài tháng có thể nghe được nhiều hơn và tôi đã có thể học được 4 thứ tiếng:
Kinh nghiệm học tiếng Anh của chuyên gia nước ngoàiNhân hội nghị quốc gia về tiếng Anh, phóng viên VietNamNet đã phỏng vấn các chuyên gia một số kinh nghiệm dạy và học môn ngoại ngữ này. Ông Peter Moor, tác giả của những cuốn sách giáo khoa tiếng Anh nổi tiếng

Đừng quá chú trọng văn phạm, đọc tài liệu mà cố gắng lắng nghe người bản xứ nói càng nhiều càng tốt. Đừng e ngại nếu phạm lỗi khi nói. 
Không có quy định học tiếng Anh ở độ tuổi nào, 30-40 tuổi thậm chí hơn thế nữa vẫn có thể học tiếng Anh. Tuy nhiên nếu học ngoại ngữ từ bé thì phát âm theo giọng người bản xứ sẽ chuẩn hơn so vớikhi đã lớn. Với kỹ năng phát âm, đầu tiên phải tập nghe. Lúc ban đầu không nghe được, cố gắng nghe người bản xứ để hỗ trợ cho việc học của mình. Đến khi phát âm không chỉ là độ trầm bổng mà còn phải xem chữ đó phát âm như thế nào và nhịp điệu của câu ra sao.

Khi tôi bắt đầu học tiếng Tây Ban Nha mở băng ra chỉ nghe được vài từ nhưng sau vài tháng có thể nghe được nhiều hơn và tôi đã có thể học được 4 thứ tiếng: Tây Ban Nha, Đức, Ý, Pháp. 
Giáo viên, thường có khuynh hướng dạy tất cả những gì họ biết. Theo tôi, nên dạy vừa đủ cho học sinh cần biết. Một tiết học có thể học trên 10 từ là đủ và cần thiết phải ôn lại thường xuyên những gì đã dạy để sinh viên nhớ lâu. 
Ông Thommas Hayton, giảng viên Hội đồng Anh MalaysiaTôi nhận thấy sử dụng công nghệ trong giảng dạy tiếng Anh rất đỡ cho giáo viên và chính các em học sinh tiếp thu bài giảng cũng nhanh hơn. Cụ thể là sử dụng Powerpoint trong máy tính cho các bài học trên lớp. Vai trò của Powerpoint trong bài giảng trên lớp không chỉ là lật từng trang của bài diễn thuyết, chẳng mấy chốc học sinh lăn ra ngủ. Thay vào đó, cần tận dụng triệt để tính năng tương tác được cài đặt trong này như nhạc, phông chữ giống phim hoạt hình, mầu sắc lấp lánh... để các em thấy thú vị với bài giảng và các em có thể tham gia trực tiếp.

Ông Mario Rinvoluci, Giám đốc Bộ phận đào tạo giáo viên ở trường Pilgrims (Anh) 

Có 2 mốc thời gian mà học trò cũng ảnh hưởng đến công việc giảng dạy của tôi. Những năm 70, học trò của tôi là người Iran nên ảnh hưởng ít nhiều đến việc giảng dạy. Các trò này rất thông minh và sáng dạ, kỹ năng nghe nói rất tốt nhưng kỹ năng đọc và viết rất tệ.

Năm 1990, sinh viên của tôi đa số là người Nhật, họ viết rất tốt và hầu như không có lỗi chính tả; nhưng nói không tốt,cũng không chịu nói và nghe cũng rất tồi. 
Qua 2 trường hợp trên cho thấy, tùy từng đối tượng học sinh mà áp dụng cách dạy cho tốt. Theo tôi nên sử dụng phương pháp đa trí tuệ. Phương pháp này sử dụng phổ biến ở các trường tiểu học và trung học ở Mỹ. Cách này không chỉ sử dụng cho môn ngoại ngữ mà còn cho cả các môn khác như Toán, Lịch sử… Ở nước Anh những đặc trưng này cũng được sử dụng phần nào. Trước đây theo truyền thống các trường ĐH ở Mỹ kiểm tra học sinh bằng những bài học kiểm tra về khả năng tư duy toán học và khả năng tư duy ngôn ngữ thế nhưng tôi tin rằng có những loại trí thông minh khác như trường hợp Moza chẳng hạn! 

Hình thức đa phương tiện này giúp người học rất nhiều, ví dụ trong lớp 40 người có 6 - 7 học sinh giỏi ngôn ngữ. Giáo viên có tồi đến đâu, các em cũng học nhanh và sáng dạ. Tuy nhiên, những em còn lại không hẳn là kém mà thông minh theo dạng khác như âm nhạc thì giáo viên có thể truyển tải việc học tiếng Anh thông qua âm nhạc. 
Lời khuyên học tiếng anh hiệu quả của bà Alexandria S.Hadden

1. Phải đặt ra cho mình một mục tiêu. Học để làm gì? Học giỏi đến cỡ nào là vừa (dịch, nói chuyện hay dành cho học thuật) ?
2. Cố gắng học đều đặn, ngày nào cũng học dù đó là ngày lễ hay nghỉ hè. Học mỗi ngày một ít, thực tập những điều đã biết và học thêm những điều mới.
3. Khi đạt được một tiến bộ mới cũng nên tưởng thưởng cho mình.
4. Tìm một người đã rất thành công trong việc học ngoại ngữ để học hỏi kinh nghiệm. 
5. Đừng e ngại. Phải tận dụng tất cả mọi cơ hội để học tập tiếng Anh.
6. Cố gắng đọc dù đọc một cuốn sách dành cho trẻ con hay một đoạn trong bài báo.
7. Đừng bao giờ chán nản. Học ngoại ngữ giống như tập đi xe đạp, phải ngã vài lần rồi mới thành công. Cố gắng tạo niềm vui trong học tập

Website: www.vedico.com.vn; www.daotaodichthuat.edu.vn ; www.thegioidichthuat.com
e-mail: dichthuat@vedico.com.vn; daotao@vedico.com.vn ; dichthuatvedico@gmail.com

Trung Tâm Biên Phiên Dịch Nâng cao khả năng sử dụng tiếng Anh


Nâng cao khả năng sử dụng tiếng Anh

Thông qua việc tự đánh giá, người học có thể nhận ra sự khác biệt trong việc học tiếng Anh so với các môn học khác ở chỗ mục tiêu cuối cùng là khả năng sử dụng

  1. Tầm quan trọng của việc tự đánh giá :
Thông thường, sinh viên thiếu động cơ học tập do chương trình học tiếng Anh bắt buộc bị áp đặt và chưa gắn liền với nhu cầu thực tế của các em. Trong khi đó, các bài kiểm tra và thi cuối kỳ vẫn chưa hoàn toàn đánh giá đúng trình độ thực sự của sinh viên. Điều này sẽ chống lại xu hướmg học tập tự định hướng (self-directed learning) và khiến cho sinh viên không có nhu cầu lẫn cơ hội để tự đánh giá bản thân. Trong khi đó, việc tự đánh giá lại giúp cho sinh viên thấy được ưu và khuyết điểm của mình để phát huy hay khắc phục bằng cách đưa ra nhiều chiến lược học tập khác nhau cho phù hợp với định hướng tương lai. Việc tự đánh giá là một chiến lược học tập quan trọng thúc đẩy khả năng tự học tiếng Anh, giúp sinh viên thấy được tiến bộ của mình để từ đó gắn liền việc học với nhu cầu của bản thân .

Thông qua việc tự đánh giá, người học có thể nhận ra sự khác biệt trong việc học tiếng Anh so với các môn học khác ở chỗ mục tiêu cuối cùng là khả năng sử dụng (performance in English) chứ không chỉ là kiến thức về nó (knowledge about English). Khả năng này cần có một tiến trình tích lũy lâu dài hơn là nỗ lực tối đa nhất thời. Chẳng hạn, sinh viên thường chờ đến cận ngày thi hay kiểm tra mới nhồi nhét một lượng lớn kiến thức vào đầu. Điều này có thể hiệu quả trong một số môn học như môn địa lý, nhưng hoàn toàn không phù hợp với việc học tiếng Anh.
 
Bạn có khả năng thực hiện những việc sau đây không ? chẳng hạn như :
- Yêu cầu thầy cô lặp lại nếu bạn không hiểu ?
- Kể cho bạn bè về gia đinh bạn ?
- Nói chuyện về sở thích và điều bạn quan tâm ?
- Hỏi bạn bè về điều bạn quan tâm về họ ?
- …….. ?…
Sau đó, đánh dấu vào các ô :

1. Vâng, tôi có thể 2. Vâng, nhưng chỉ một ít 3. Không, tôi không thể
2.2. Tiến trình thực hiện :
2.2.1. Tự đánh giá cần được tiến hành từ đầu khóa học. 
Bắt đầu mỗi khóa học (học kỳ), chúng ta cần đưa ra những bảng câu hỏi và điều tra nhằm giúp sinh viên tự đánh giá về kiến thức và kinh nghiệm học tập trước đây.Ý thức tự đánh giá ban đầu (cùng với những hoạt động liên quan) giúp sinh viên nhận ra rằng tất cả họ đều không bắt đầu từ một vị trí, nghĩa là sinh viên cùng học trong một lớp gồm nhiều trình độ (mixed-level class). Tiếp theo, bước quan trọng nhất là để cho sinh viên đánh giá chi tiết những gì các em thực sự làm được bằng tiếng Anh. Điều này giúp các em so sánh, đối chiếu với những sinh viên khác trong lớp, và để “đo” được khả năng hoàn thành mục tiêu của chương trình học. Bảng câu hỏi có thể tập trung vào cả khả năng sử dụng lẫn kiến thức về ngôn ngữ. Ví dụ:

Các câu hỏi theo dạng trên (Bạn có khả năng …?) sẽ giúp cho sinh viên và giáo viên đánh giá về trình độ ban đầu của các em, đồng thời cũng giúp sinh viên tự đánh giá tích cực hơn vì chúng hướng đến những việc mà sinh viên có khả năng làm. Câu hỏi càng cụ thể thì sinh viên càng dễ trả lời và do đó độ tin cậy càng cao.
 
Việc tổ chức kiểm tra tự đánh giá ban đầu cũng rất hữu ích. Các bài kiểm tra này nên được thiết kế giống với bài thi hoặc được lấy từ các bài thi cũ. Điều này giúp sinh viên làm quen với bài thi, qua đó tự đánh giá năng lực và tiến bộ của mình .
Mặc dù những hoạt động tự đánh giá nói trên không phải luôn bảo đảm rằng tất cả sinh viên sẽ tiến bộ hay sẽ chủ động học tập ngay, nhưng chúng sẽ phần nào tác động vào mỗi cá nhân sinh viên và giúp các em tập trung học tập hơn.

2.2.2. Tự đánh giá phải được thực hiện thường xuyên và có hệ thống 
Việc tự đánh giá ban đầu nên được hỗ trợ bởi các hoạt động tự đánh giá khác một cách thường xuyên và có hệ thống xuyên suốt khóa học. Điều này sẽ giúp sinh viên xem việc học tiếng Anh như mục tiêu cá nhân, nhằm phục vụ nhu cầu thực tiễn trong tương lai, hơn là chỉ vì điểm số. Chẳng hạn :
+ Việc sử dụng nhật ký cá nhân (learner diary) sẽ rất hữu ích. Mỗi tuần giáo viên cần dành 5-10 phút để sinh viên ghi lại những gì các em đã làm bằng cách trả lời những câu hỏi ngắn (ví dụ : chúng ta đã học được những gì ? Các em đã hiểu được những phần nào ? Các em có khó khăn gì ?). Sinh viên cũng nên được khuyến khích nhận xét vào nhật ký của mình về các bài tập ở nhà. Cuối mỗi học kỳ, giáo viên thu lại bản nhật ký này nhằm đánh giá thái độ học tập của sinh viên .
 
+ Sinh viên cũng có thể sử dụng tập lưu trữ tài liệu (portfolios) gồm các bài làm, bài viết mẫu, bảng tự đánh giá hay nhật ký cá nhân. Tập tài liệu này sẽ được sử dụng để đối chiếu với đánh giá của giáo viên vào cuối mỗi học kỳ. Nếu có thời gian giáo viên nên dành một số buổi thảo luận nhằm hướng dẫn các em biết cách so sánh và đối chiếu .
+ Việc tự đánh giá có thể được tiến hành bằng cách để sinh viên thể hiện khả năng sử dụng tiếng Anh nhằm nhận biết được sự tiến bộ của mình ở các kỹ năng .
Đối với kỹ năng nghe, trước khi làm một bài tập nên để sinh viên đoán trước độ khó dễ của bài tập đó. Nhờ vậy, sau khi làm xong, sinh viên chỉ cần rất ít thời gian để biết mình làm bài tốt hay không, hoặc tại sao bài tập đó khó hay dễ. Ví dụ :
Trả lời những câu hỏi sau rồi so sánh với bạn mình :
1 . Nội dung bài nghe :
a. Rất dễ b. Khá dễ c. Khá khó d. Không thể làm được .
2 . Tại sao nội dung bài nghe dễ / khó ?
- Người nói rõ / không rõ
- Người nói nhanh / chậm
- Giọng nói quen thuộc / xa lạ
- Tôi thấy / không thấy người nói
- Chất lượng âm thanh tốt / xấu
- Ngữ cảnh rõ ràng / mập mờ .
1 . Theo bạn, thầy (cô) nên đánh giá bài viết của bạn theo những tiêu chí nào ? Điều nào sau đây là quan trọng ?
- Cách trình bày (chữ viết v.v…)
- Bố cục bài ( mở bài, thân bài, kết luận)
- Nội dung (phù hợp, hấp dẫn )
- Liên kết ý tưởng
- Tính chính xác (Bài văn có nhiều lỗi khác nhau hay không ?)
- Từ

2. Thầy (cô) sẽ cho điểm mỗi phần là bao nhiêu (ví dụ: nội dung :2,5 điểm, trình bày : 2,5 điểm, bố cục: 2,5 điểm, tính chính xác: 2,5 điểm 
Đối với kỹ năng viết, nên thiết lập các tiêu chuẩn rõ ràng để giúp sinh viên dễ đánh giá việc trình bày của mình. Chẳng hạn, giáo viên có thể phác họa các tiêu chí đánh giá hoặc bàn bạc với lớp học trước. Bằng cách này, việc đánh giá có thể trở thành một phần của tiến trình viết. Sinh viên sử dụng các tiêu chí để chỉnh sửa bản viết nháp nhằm hoàn thiện bản viết cuối cùng. Ngoài ra, lớp học nên liệt kê các lỗi thông thường nhằm giúp sinh viên tự biên tập lại hay dùng chúng để kiểm tra bài viết của mình.
Ví dụ :Đối với k ỹ năng nói, việc tự đánh giá sẽ khó hơn, nên tốt nhất là để sinh viên đánh giá lẫn nhau (peer-asssessment). Nếu có thể, giáo viên yêu cầu sinh viên mang máy ghi âm để ghi lại cuộc đàm thoại của nhóm rồi dựa theo các tiêu chí đã được thống nhất để đánh giá lẫn nhau. 
Tóm lại, để việc tự đánh giá càng hiệu quả và khả thi, chúng ta cần có đủ thời gian và trang thiết bị, đồng thời nó phải phù hợp với thời khóa biểu chung của lớp học do mỗi tuần chỉ có 3 -4 tiết học tiếng Anh. Do đó, chúng ta cần phải kết hợp việc tự đánh giá với các hoạt động trong lớp hàng ngày liên quan đến các kỹ năng.

2.3. Mối quan hệ giữa việc tự đánh giá và đánh giá của giáo viên :
Rõ ràng, việc tự đánh giá không thể thay thế hoàn toàn việc đánh giá của giáo viên. Tuy nhiên, nó trợ giúp rất nhiều cho công tác đánh giá của giáo viên, qua đó làm giảm khối lượng công việc của họ. Việc kết hợp cả hai hình thức trên sẽ làm cho hiệu quả đánh giá cao hơn nhiều, đặc biệt là trong các lớp đông sinh viên, mà ở đó giáo viên hầu như không thể nắm bắt hết khả năng trình bày của từng cá nhân. Chính vì vậy, việc tự đánh giá sẽ bù đắp những thiếu sót trên. Nó sẽ đánh giá từng cá nhân thường xuyên thay cho những bài kiểm tra định kỳ do giáo viên đưa ra. Việc tự đánh giá bằng bảng câu hỏi (questionnaire) cũng thực tế hơn các bài kiểm tra. Chẳng hạn, sau khi sinh viên tự đánh giá bài kiểm tra viết của mình rồi xem xét những lỗi trong đó, việc đánh giá lại và cho điểm của giáo viên sẽ khuyến khích các em tập trung phân tích cũng như đối chiếu hai hình thức đánh giá. Nếu không có hình thức tự đánh giá, sau khi sinh viên nhận lại bài kiểm tra, các em thường chỉ chú ý đến điểm số mà ít khi chịu xem xét cách đánh giá của giáo viên.

2.4. Kết quả của việc tự đánh giá 
Vào cuối khóa học, nếu việc tự đánh giá diễn ra có hệ thống và liên tục, sinh viên sẽ ngồi lại và đánh giá toàn bộ quá trình học tập của mình. Ngoài ra, sinh viên có thể đối chiếu điểm kiểm tra, thi cuối kỳ với bảng tự đánh giá của mình để xem liệu các em cần phát huy hay khắc phục những điểm mạnh yếu nào trong tương lai.
 
Việc tự đánh giá có hệ thống sẽ làm cơ sở phát triển các khả năng hỗ trợ việc học của sinh viên như: tổ chức và vạch kế hoạch học tập, chọn lựa phương pháp học phù hơp, cũng như cách thảo luận và trao đổi thông tin. Nói cách khác, nếu không có tự đánh giá, việc đào tạo các kỹ năng trên sẽ tốn rất nhiều thời gian nhưng lại khó đạt hiệu quả cao .

3.KẾT LUẬN
Tự đánh giá không chỉ khuyến khích việc học tự định hướng mà còn là một công cụ hữu ích giúp phát triển khả năng sử dụng tiếng Anh của sinh viên đại học nếu nó được thực hiện một cách liên tục và có hệ thống. Sinh viên không những sẽ chủ động và tích cực học tập hơn mà còn vận dụng được khả năng giao tiếp hiệu quả hơn. Quan trọng hơn cả, nó giúp sinh viên thấy được tiến bộ của mình, từ đó khuyến khích các em nhận thức rõ giá trị của việc học. Một nhà khoa học lừng danh từng nói : “Động cơ mạnh nhất để học tập là khi ta nhận ra được giá trị của điều mình học”.
  
Website: www.vedico.com.vn; www.daotaodichthuat.edu.vn ; www.thegioidichthuat.com
e-mail: dichthuat@vedico.com.vn; daotao@vedico.com.vn ; dichthuatvedico@gmail.com